THÀY VÀ TRÒ TRƯỜNG ĐHSĐ THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH THI ĐUA CHÀO MỪNG KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2017 - 2018 THÀY VÀ TRÒ TRƯỜNG ĐHSĐ THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH THI ĐUA CHÀO MỪNG KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2017 - 2018
Nhung su kien

Thày Chu Văn An – Nhà giáo của muôn đời

Thứ tư - 16/11/2016 03:27
          Thày Chu Văn An (1292-1370) tên thật là Chu An, hiệu Tiều Ân, quê thôn Văn, xã Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt - huyện Thanh Trì, Hà Nội ). Thời trẻ ông đã từng đỗ Thái học sinh, là một nhà Nho tài đức vẹn toàn, nổi tiếng nghĩa khí, một nhà sư phạm lỗi lạc, bậc thầy uyên thâm của nho giáo Việt Nam. Ông tham gia dạy học tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Theo Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản. Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 1, tr.234 được xây dựng năm 1070, là trường đại học đầu tiên của nước ta) có công đào tạo nhiều học trò thành đạt, đỗ đạt cao như: Phạm Sư Mạnh, Lê Quát,...
          Trải qua nhiều đời với nhiều đóng góp cho đất nước và các thế hệ học trò nhân dân đã lập đền thờ ông. Năm 2001, Nhà nước ta đã cho đúc tượng đồng Thày Chu Văn An để thờ phụng để con cháu đời đời mãi ghi nhớ công lao, tài đức của Thày với đất nước.
          Năm 1324 – 1329, Niên hiệu Khai Thái triều Trần Minh Tông, mời ông vào cung để dạy thái tử Trần Vượng, vua Hiến Tông và sau làm tư nghiệp Quốc Tử giám (như chức Phó Hiệu trưởng trường đại học bây giờ). Đến giai đoạn 1341 - 1369 triều Trần Dụ Tông hoàn cảnh xã hội vô cùng nhiễu nhương, cận thần, vô đạo lộng hành đẩy nhân dân vào cảnh bần hàn cơ cực, đói khổ. Nhiều trung thần, nghĩa sĩ có tài, đức thì bị hãm hại.
111119kpnhagiaovn2
Chân dung Thày Chu Văn An. (Nguồn kênh 14.vn)
          Thày Chu Văn An tính vốn điềm đạm, không ham muốn danh vọng và vật chất. Thày Chu Văn An cũng là người thẳng thắn chính trực, căm ghét bọn gian thần hiểm độc, bất tài vô dụng. thấy cảnh triều đỉnh nhiễu nhương Thày đã dũng cảm dâng “Thất trảm sớ” chém bảy tên gian thần đã gây chấn động dư luận, nói như người xưa làm kinh động quỷ thần và trở thành biểu tượng chói sáng của thái độ trí thức trước thời cuộc lúc bấy giờ. Do Thất trảm sớ không được thực hiện, thất vọng với triều đình lúc bấy giờ Thày đã lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, nay thuộc Thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương.
          Theo nhiều tài liệu Thày Chu Văn An để lại nhiều tác phẩm trong đó có hai tập thơ, một bằng chữ Hán: Tiểu ẩn thi tập; một bằng chữ nôm: Tiểu ẩn quốc ngữ thi tập và một bộ giáo trình Tứ thư thuyết ước. Nhưng hiện nay chỉ còn 12 bài bằng chữ Hán, khi đọc hai câu thơ:
“Cá bơi trên ao cũ, rồng ở chốn nào
Mây đầy núi vắng, hạc chẳng thấy về”
          Phan Huy Chú nhận xét: “Lời thơ trong sáng Đây là thơ Chu Văn An viết khi lui về ở ẩn. Thơ ông chịu ảnh hưởng của đạo Phật như nhiều nhà thơ thời ấy, nhưng chủ yếu trong thơ ông rất trọng hiện thực, tin vào sự chiêm nghiệm của mình, không theo những nếp nghĩ có sẵn. Thấy cá thì nói cá, thấy mây thì nói mây, chứ không theo thói thường các ẩn sỹ nói mây thì lại tả hạc, nói ao lại tả rồng”.
          Chính phương pháp suy nghĩ ấy nên khi thơ ông ca ngợi sự lánh đời, chúng ta lắng nghe vẫn thấy ở phía sau một nỗi niềm không thoát tục. Ông viết:" Thân cùng mây tẻ quyến luyến hốc núi/ Lòng cùng giếng cổ chẳng hề gợn sóng". Nhưng chính ông cũng lại viết: "Tấc lòng chưa lạnh như tro đất". Ông ở ẩn là do tình thế bắt buộc, sau thất trảm sớ làm sao ông còn ở kinh đô được. Ông ở ẩn mang theo một chí nguyện không thành, muốn giúp đời mà không giúp được, chứ đâu phải vì ham thú tiêu dao. Ca ngợi hạc nội, mây ngàn cũng chỉ là cách tự an ủi. Hướng lòng về thiên nhiên chỉ để dịu nỗi buồn nhân thế. Nhiều lúc ông không giấu được xót xa:
“Công danh trót lạc vào hư ảo
Hồ hải rong chơi bớt nỗi sầu”
          Đôi lúc ta đọc được ở ông sự day dứt rất đáng cảm thông:
“Nhà ngọc, lều tranh đều có số
Đục Kinh, trong Vị chẳng cùng xuôi”
(Nước sông Kinh đục, nước sông Vị trong không thể cùng dòng).
          Học trò của ông có người đã đi vào truyền thuyết như Thủy thần dám hy sinh thân mình cứu dân được dân nhiều nơi dựng đền thờ. Đền chính thuộc địa phận làng Bằng Liệt, tên chữ Xá Can từ, tục gọi miếu Gàn. Các sách sử như Tối linh từ thực lục, Việt sử tiêu án, Tang thương ngẫu lục, Chu Văn An tiểu sử... đều thống nhất cách gọi như trên. Sắc phong thần của các triều Lê, Nguyễn còn lưu ở các ngôi đền này cho thấy học trò thủy thần được phong là Bảo Ninh Vương. Cụ Vũ Tuân Sán trong một công trình nghiên cứu về Chu Văn An cho biết, các tên gọi vừa nêu còn được ghi trên tấm bia đá dựng năm Thành Thái thứ 19 (tức năm 1907) tại đền này.
          Như vậy, khi nghiên cứu về nhà giáo Chu Văn An có thể khẳng định những giá trị mà Ông đóng góp cho nền giáo dục nước nhà. Thày Chu Văn An – thày giáo của muôn đời là một người thuần nhã, hiền hoà, chính trực, kiên định, được tôn vinh là anh nhân lịch sử - văn hóa của dân tộc Việt Nam, nhưng trước hết ông là người thầy đứng đầu các nhà giáo Việt Nam từ xưa đến nay đã sống mãi trong lòng nhân dân muôn thế hệ. Trải qua bao đời, nhân dân đã lập đền và tôn thờ ông. Hàng năm cứ đến ngày hiến chương các nhà giáo 20/11 chúng ta lại thể hiện long tri ân với các thày cô của mình, nhưng đồng thời chúng ta cũng mãi mãi ghi nhớ công lao, tài đức của đấng danh nhân hào kiệt của đất nước.

Tác giả bài viết: ThS. Vũ Văn Đông

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập14
  • Hôm nay514
  • Tháng hiện tại9,860
  • Tổng lượt truy cập178,021
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây